3 lưu ý cơ bản khi chọn đội bê tráp cưới hỏi

Theo tục lệ cưới hỏi ở Việt Nam, lễ ăn hỏi được diễn ra trước đám cưới trong đó đại diện cho nhà nam cùng đội ngũ bê tráp sẽ mang “sính lễ” đến nhà nữ để hỏi vợ. Mặc dù chỉ mang tính chất thủ tục trước ngày cưới nhưng việc chuẩn bị sao cho lễ ăn hỏi được diễn ra thuận lợi cũng là điều cô dâu – chú rể cần lưu ý.

chup-hinh-phong-su-dep-19

Là thành phần không thể thiếu giúp lễ ăn hỏi diễn ra suôn sẻ, khi lựa chọn đội hình bê tráp gồm nam thanh nữ tú cho buổi lễ, cô dâu – chú rể cần chú ý một số điểm như sau:

Số lượng người bưng quả, đỡ tráp

Ở Việt Nam, tùy thuộc vào quan niệm cưới hỏi cũng như phong tục tập quán, mỗi vùng miền khác nhau sẽ có số lượng mâm quả khác nhau.

Tại các tỉnh thành từ Huế trở ra, khi chuẩn bị đám hỏi, nhà trai sẽ chuẩn bị tráp lễ vật với số lượng tráp là lẻ (có thể từ 3 tráp, 5 tráp cho đến 11 tráp, 15 tráp). Do đó, ở các vùng này người ta thường chọn số người bưng lễ là số lẻ.

chup-hinh-phong-su-dep-3

Ngược lại với truyền thống tại miền Bắc, các gia đình cô dâu miền Nam thường yêu cầu số lượng tráp là chẵn, phổ biến nhất là 6 hoặc 8 tráp (số 6 và số 8 biểu tượng cho tài lộc). Vì vậy, số lượng người được chọn trong đội bê tráp ở khu vực miền Nam thường là số chẵn.

Khi lựa chọn thành viên tham gia vào đội ngũ bê tráp, về phía nhà trai, những người bưng mâm lễ vật phải là con trai chưa vợ, đặc biệt phải ít tuổi hơn chú rể.

Về phía nhà gái, số lượng nữ tú đỡ tráp lễ vật từ phía nhà trai phải tương ứng với số nam bưng mâm lễ và đội đón tráp này phải là con gái trẻ tuổi hơn cô dâu, chưa lập gia đình.

Chiều cao đội bê tráp

Lời khuyên cho một đội hình bê tráp hoàn hảo là các thanh niên, thiếu nữ trong đội bê tráp nên thấp hơn cô dâu chú rể; nếu không, đôi uyên ương có thể tạo điểm nhấn cho đội ngũ này bằng trang phục lễ nổi bật.

Lựa chọn trang phục và trang điểm

Trang phục nhã nhặn và lịch sự cho đội ngũ bê tráp của nhà trai thường được ưa chuộng là áo sơ mi trắng, cà vạt đỏ, quần âu, giày tây.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào sở thích và gu thẩm mỹ của cả hai bên nhà trai, nhà gái, trang phục của đội bê tráp cũng có thể thay đổi cho phù hợp với áo the, khăn xếp; hoặc chỉ đơn giản là áo sơ mi, quần bò, giày thể thao cho đội nam.

Bên cạnh đó, trang phục của đội nữ nhận lễ thường thấy là áo dài đỏ với họa tiết đơn giản in trên tà áo cùng giày cao gót.

Để có sự ăn ý giữa đội ngũ bê tráp nhà trai và nhà gái, màu áo dài của đội đỡ tráp nữ nhà gái nên cùng tông màu với cravat của đội nam. Chẳng hạn, với áo dài đỡ tráp màu đỏ thì cravat đội nam cũng nên là màu đỏ, còn nếu áo dài màu xanh thì cà vạt cũng nên thiên về tông xanh.

chup-hinh-phong-su-11

Với mục đích chủ yếu là làm nổi bật cô dâu, đội bê tráp nữ nên trang điểm với phong cách nhẹ nhàng, đơn giản với trang phục áo dài khác hẳn màu so với áo dài cô dâu.

Click vào nút Like Faceook để nhận nhiều điều thú vị khác từ P.wedding

Fanpage P.wedding

P.wedding

Website: http://p-wedding.com/

Hotline: 0908.52.12.32

Facebook: www.facebook.com/PweddingWeddingPlanner

Add: 145/3 Nguyễn Đình Chính, P.11, Q.Phú Nhuận, TP.HCM

Advertisements

Lễ cưới – Xưa & nay

Pwedding.vn – Cưới là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời con người. Xưa, lễ cưới khá công phu và tốn kém nhưng rất được coi trọng. Càng tiến đến thời hiện đại, mọi nghi lễ đều được giản lược hơn và lễ cưới cũng nằm trong số đó.

heartNgười xưa…

Trong những lần được nghe kể chuyện của các cụ già làng tôi hay bất cứ nơi đâu thuở trước thì đám cưới vẫn là nét đẹp văn hóa. Người xưa coi trọng phần lễ vì họ tin rằng sự gắn kết vợ chồng là do duyên số. Còn phần tiệc cũng không kém quan trọng.

Thông thường, để đến được ngày vu quy thì phải trải qua ba giai đoạn: dạm ngõ, ăn hỏi và đám cưới. Thời gian nhanh hay chậm của quy trình này còn tùy vào sự quyết định của hai bên gia đình nhưng thường không quá hai năm.

“Dạm ngõ” là nghi thức đầu tiên nhà trai đưa trầu cau, mâm quả đến nhà gái làm lễ. Đây là lần đầu tiên đôi trẻ được nhìn thấy nhau, dù rằng họ sắp trở thành vợ chồng. Trong lần dạm ngõ này, thường chỉ có hai đến ba người nhà trai tới nhà gái mà thôi. Lễ này ngầm khẳng định cô gái ấy trong tương lai sẽ làm vợ chàng trai, có ý ngăn cấm các chàng trai khác  tán tỉnh, tựa như hoa đã có chủ.

Lễ cưới – Xưa & nay (2)

Sau lễ dạm ngõ là lễ ăn hỏi – tục lệ này phổ biến hơn cả. “Ăn hỏi” khá quan trọng, đây là lúc nhà trai (đại diện là những người có vai vế) đưa sính lễ đầy đủ đến nhà gái. Đến đây, nhà trai – nhà gái có cơ hội gặp gỡ, chuyện trò và khẳng định sẽ làm thông gia với nhau. Đôi trẻ sẽ gá nghĩa vợ chồng để anh em bà con ruột thịt được biết.

Lễ cưới – Xưa & nay (3)

Lễ cưới – Xưa & nay (4)

Đám cưới sau đó chỉ là thủ tục mời dân làng đến chia vui, thông báo với mọi người họ chính thức nên duyên vợ chồng.

Lễ và tiệc được tổ chức khá linh đình và quy củ.

heartNgười nay…

Trong guồng quay của xã hội hiện đại, nếp sống và nếp nghĩ của con người đã thay đổi. Sự tiện lợi của cuộc sống số đưa con người xích lại gần nhau hơn, những mối quan hệ được tính theo cấp số nhân cho phép con người tự do tìm hiểu, tự do yêu đương, tự do kết hôn.

Giờ đây, những  thủ tục đã được giản lược một cách tối ưu nhất. Chúng được thay thế bằng sống chung, sống thử trước hôn nhân xem có hợp nhau không. Dạm ngõ không còn, ăn hỏi cũng dần mai một, chỉ còn có tiệc cưới là dường như được tổ chức hoành tráng hơn, quy mô hơn.

Thực ra, cưới cũng đã thay đổi nhiều. Giờ đây, chỉ còn tiền mặt nộp lễ, không còn sính lễ linh đình, không còn nộp tiền cheo cưới “một nắm xôi vò, con lợn béo, vò rượu tăm…” mà tất cả dều diễn ra ở nhà hàng với khẩu hiệu nhanh – tốt – rẻ – tiện lợi. Các nhà hàng mọc lên như nấm! Chỉ mất 3-4 tiếng đồng hồ là xong một tiệc cưới. Trang phục, nhẫn cưới, tiệc cưới, thậm chí có nơi còn có đội ngũ đóng giả làm quan viên hai họ nếu ai có nhu cầu.

Lễ cưới – Xưa & nay (1)

Lễ cưới – Xưa & nay (5)

Xưa, đám cưới là có thêm một người con, người cháu, rồi mới đến vai trò làm người chồng, người vợ trong gia đình. Nay, đám cưới thực chất là một buổi tiệc chiêu đãi bạn bè để khẳng định vai trò làm vợ làm chồng, còn các vai trò khác đã nhẹ hơn đi nhiều. Phải chăng vì vậy mà tuổi thọ hôn nhân lại thấp hơn so với trước đây?

Không thể phủ nhận sự đơn giản của đám cưới sẽ giảm gánh nặng cơm áo gạo tiền cho mọi người – nhất là trong thời bão giá như thời nay, nhưng khi những giá trị mất đi thì sẽ rất khó lấy lại được. Sự trang trọng, thiêng liêng của đám cưới, dẫn theo sau nó là tình vợ chồng rồi liệu sẽ đi về đâu?

Là người hoài cổ, tôi hi vọng rằng các đôi trẻ ngày nay sẽ ít nhiều vẫn giữ những nghi lễ xưa, nhưng đặt nó trong guồng quay dữ dội của thời đại là điều không tưởng. Chỉ mong rằng nếu không giữ được phần lễ, thì những giá trị tâm hồn cũng sẽ chẳng mất đi, để đám cưới vẫn vẹn nguyên là khởi đầu cho mùa hạnh phúc đôi lứa. Bởi vì, giá trị văn hóa sẽ chẳng là gì cả khi giá trị tinh thần mất đi!

——————–oOo——————–

Click vào nút Đăng ký để nhận những mẫu Thiệp cưới mới nhất năm 2013 và nhiều điều thú vị khác từ P.wedding

Đăng ký_1

P.wedding

Website: http://p-wedding.vn/

Địa chỉ: 15/5 Hoàng Minh Giám, P.9, Q. PN, TP.HCM

Điện thoại: (84-8) 66 735 143

Hotline: 0908521232

E-mailinfo@p-wedding.com

Facebookhttp://www.facebook.com/PweddingWeddingPlanner

Phong tục – nghi lễ cưới: sự khác biệt trong mâm quả hai miền Nam – Bắc

Sắp làm đám cưới, ắt hẳn các cô dâu – chú rể sẽ không khỏi thắc mắc về các nghi lễ cưới và cách chuẩn bị lễ lạt sao cho chu đáo, đúng với nghi thức và hợp với từng vùng miền. Thông thường, cô dâu chú rể sẽ hỏi ý kiến của họ hàng, bố mẹ, các bậc cao niên… nhưng nếu cô dâu chú rể thuộc hai vùng miền khác nhau thì bạn cần nhớ rằng, sự khác biệt trong cách chuẩn bị lễ của hai vùng miền này là điều cần phải lưu ý. Trong nhiều trường hợp, cô dâu chú rể cần ghi nhớ để có những chuẩn bị cho hợp nhất trong đám cưới của hai người. Một vài tìm hiểu từ P.wedding về mâm quả cưới hi vọng hữu ích với bạn:

Ý nghĩa của mâm quả cưới

Trong lễ Nạp tài, mâm quả cưới được trao và nhận một cách trang trọng bên bàn thờ tổ tiên nhà gái. Nghi lễ này làm cho đôi vợ chồng trẻ cảm nhận rõ sự thiêng liêng và trách nhiệm của mình đối với hôn nhân. Mâm quả cưới xuất phát từ ý nghĩa gắn kết cho đôi lứa nên duyên bền chặt, thế nên quan niệm mâm cỗ cao thì hạnh phúc sẽ dài lâu là điều không đúng. Mâm quả cưới còn phải tùy thuộc vào điều kiện kinh tế hai nhà, là món quà khích lệ tinh thần cho đôi uyên ương mới bước vào cuộc sống hôn nhân bền vững. Điều quan trọng, gia đình hai bên phải hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau, mâm quả cưới là sự mở đầu câu chuyện cho mối lương duyên thông gia gắn kết hai nhà.


Ở miền Bắc, mâm quả thường là số lẻ, nhưng ở miền Nam lại quy đinh ngược lại, mâm quả buộc phải là số chẵn

Lễ vật được đựng trong các mâm, tráp và có đội bưng quả đảm nhận nhiệm vụ trao mâm quả trong lễ cưới. Mâm quả là lễ vật không thể thiếu trong lễ cưới truyền thống của người Việt Nam, mà cụ thể là trong lễ ăn hỏi. Mâm quả cần được chuẩn bị đầy đủ, được sắp xếp cầu kỳ nhưng số lượng và cách lựa chọn đồ lễ của hai miền lại có đôi chút khác nhau.

Số lượng:

Ở miền Bắc, mâm quả thường là số lẻ (từ 1, 3, 5, đến 9, 11 lễ). Đây được coi là những số dương, biểu tượng của sự sinh sôi, phát triển. Theo phong tục miền Bắc, mâm quả được sắp xếp dựa trên quy tắc “ngoài lẻ trong chẵn”, nghĩa là số lượng mâm quả là lẻ nhưng những lễ vật, sính lễ bên trong mâm quả lại là số chẵn, phải đi theo đôi, cặp.

Ở miền Nam, lễ cưới thường kiêng số lẻ nên mâm quả bắt buộc phải là số chẵn và phải nhiều hơn 2 (từ 4, 6 đến 10, 12 lễ). Các đồ lễ trong mâm quả cũng phải là số chẵn và đi theo đôi, theo cặp. Ngoài ra, số lượng các thành viên của gia đình nhà trai sang nhà gái để làm lễ ăn hỏi, rước dâu cũng phải là số chẵn.


Mâm bánh được xếp theo hình ngôi sao ấn tượng trong đám cưới miền Nam.

Mâm quả cưới có những gì?

Ở cả hai miền, cách chọn đồ lễ dựa theo quy tắc khá giống nhau, bao gồm trầu – cau, trà – rượu và đồ mặn – ngọt. Tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình mà hai nhà bàn tính để chọn cụ thể các loại lễ vật.

1.Trầu cau

1 khay nhỏ đựng trầu, cau đã được têm sẵn với ý nghĩa miếng trầu là đầu câu chuyện

Từ ngàn xưa đến nay, dù đám cưới theo phong tục Bắc – Trung – Nam đều không thể thiếu khay trầu trong mâm quả cưới. Cây cau có thân tròn, chắc là biểu tượng của người con trai, lá trầu bầu bĩnh xòe ngang mặt đất tượng trưng cho người con gái. Trầu cau hòa quyện cùng vôi sẽ tạo ra màu đỏ hồng như màu máu, tượng trưng cho sự sắt son bền chặt mà tất cả các cuộc hôn nhân đều hướng đến.

Dù đã có trầu cau nhưng nhà trai vẫn phải chuẩn bị một buồng cau, độ lớn tùy từng yêu cầu từng nhà.

2.Trái cây

Mâm trái cây cũng là thành phần không thể thiếu trong mâm quả cưới. Trái cây nhiều màu sắc, kết hợp với nhau để dâng lên bàn cúng bái tổ tiên. Ông bà ta thường nói “hoa thơm, quả ngọt”, mâm trái cây trong quả cưới là quà tặng từ thiên nhiên, ngụ ý mong cho tình yêu, cuộc sống của đôi uyên ương mới sẽ ngọt ngào, tươi mới suốt cả cuộc đời.

3.Bánh

Mâm bánh có thể là BÁNH PHU THÊ, bánh hồng, bánh pía, bánh kem, bánh cốm tùy vào yêu cầu của nhà gái và phong tục từng vùng. Ở miền Trung và miền Bắc, bánh phu thê hay bánh hồng là lễ vật không thể thiếu trong mâm quả cưới. Chiếc bánh phu thê bản thân nó cũng mang nhiều giai thoại khác nhau nhưng chung quy lại vẫn xoay quanh câu chuyện về tình nghĩa vợ chồng.

Thông thường, ở miền Bắc sẽ có thêm bánh cốm, còn khu vực miền Tây Nam Bộ thường có thêm bánh pía.

4. Trà rượu, thuốc

Trà và rượu sẽ được dâng lên bàn thờ tổ tiên, như lời con cháu mời các vị cao niên, ông bà tổ tiên về chứng giám cho đôi trẻ và cũng là để xin phép tổ tiên cho đám cưới được diễn ra vui vẻ, hạnh phúc. Mâm quả cưới có trà rượu cũng xuất phát từ quan niệm xa xưa, người ta thường nói “nam vô tửu như kỳ vô phong”, chất cay nồng của rượu và thơm đắng của trà góp hương vị cho sắc màu cuộc sống. Đôi uyên ương mới chạm ngõ hôn nhân cần có sự bền chặt dài lâu cũng như người đàn ông khi trở thành trụ cột cho gia đình sau ngày cưới cần phải có sự mạnh mẽ, vững vàng che chở cho vợ con vượt qua sóng gió.

1 mâm trà, rượu, thuốc. Ở miền Nam, nhà trai bắt buộc phải chuẩn bị thêm một cặp nến (đèn cầy) long phụng để dâng lên bàn thờ lúc làm lễ gia tiên.


5. Gà hoặc lợn quay và xôi

Mâm xôi gấc vun đầy bên cạnh con gà béo ngậy cũng là lễ vật thường xuyên xuất hiện trong các mâm quả cưới. Màu đỏ và sự dẻo dai của xôi gấc ngụ ý cho lời chúc vợ chồng son sắt, yêu thương nhau. Bóng dáng nền văn minh lúa nước hiện hữu trong cả lễ nghi ngày cưới. Con gà, khay xôi là một trong số những thứ thân quen với cộng đồng người Việt. Ngoài ra màu đỏ của xôi gấc, màu vàng béo của gà còn làm tăng phần thẩm mỹ cho mâm quả cưới. Đây là vật làm tin đem lại may mắn trong quan niệm của nhiều người.

Nhiều nơi thay gà quay bằng lợn quay.

Các mâm quả được đật nắp và phủ vải đỏ, là màu sắc tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc.

Với những gia đình có điều kiện, nhà trai có thể chuẩn bị thêm mâm đồ lễ là quần áo, trang sức cho cô dâu.

Mâm quả quần áo cho cô dâu là bộ đồ cưới được gia đình chồng chuẩn bị sẵn cho cô dâu. Thường thì là bộ áo dài, cô dâu sẽ lấy mặc vào rồi mới ra chào hai họ. Quà cưới này mang ý nghĩa khi về nhà chồng, cô dâu sẽ được chăm lo kĩ lưỡng và có cuộc sống no đủ, hạnh phúc trọn đời bên người chồng như ý.
Cũng có một số nơi, trong mâm quả còn có: Quả thịt đùi hay đầu heo, hay một con heo quay, hoặc một cặp vịt trắng.

Điều này thể hiện sự quan tâm của cha mẹ chồng đến con dâu và đồ trang sức mang ý nghĩa chúc phúc cho đôi uyên ương sẽ sung túc, hạnh phúc suốt đời.

——————–oOo——————–

Click vào nút Đăng ký để nhận những mẫu Thiệp cưới mới nhất năm 2013 và nhiều điều thú vị khác từ P.wedding

Đăng ký_1

P.wedding (St và tổng hợp)

Website: http://p-wedding.com/

Địa chỉ: 15/5 Hoàng Minh Giám, P.9, Q. PN, TP.HCM

Điện thoại: (84-8) 66 735 143

Hotline: 0908521232

E-mail: info@p-wedding.com

Facebook: http://www.facebook.com/PweddingWeddingPlanner

Nghi lễ cưới: Tìm hiểu về lễ hợp cẩn và lễ lại mặt

Ngày nay, chúng ta đã bỏ bớt một số nghi lễ cưới hỏi vì tính chất rườm rà và không cần thiết của nó, song vẫn không thể không kể đến những nghi thức cố hữu mà cô dâu chú rể cần thực hiện. Hợp cẩn và lại mặt là một trong hai nghi thức đó, thế nhưng không phải ai cũng biết tường tận hai nghi lễ này sẽ diễn ra như thế nào. Một vài chia sẻ sau của P.wedding sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những nghi thức khởi thủy của hai nghi lễ này:

1. Lễ hợp cẩn

Có thể hiểu nôm na là lễ “cùng uống rượu”. Cô dâu và chú rể, sau khi ra mắt bố mẹ chồng, sẽ được rước vào phòng. Theo tục cũ, ông cụ cầm đầu đoàn nhà trai sang rước dâu sẽ trải chiếu cho cô dâu chú rể (kiêng kỵ chiều trải lệch). Sau đó cụ rót hai chén rượu mời cô dâu chú rể rồi ra ngoài khép cửa buồng lại. Cô dâu chú rể sẽ ăn bữa cơm đầu tiên với nhau.

Nhiều gia đình phong kiến thời xưa, phỏng theo tục lệ của Trung Quốc, đêm tân hôn cho lót giấy bản, gọi là giấy thám trinh, để xem cô dâu còn trinh hay không. Nếu không, trong lễ lại mặt, gia đình nhà trai sẽ gửi cho gia đình nhà gái một cái thủ lợn bị cắt tai, ngầm ý rằng sẽ trả lại cô dâu vì cô dâu đã mất trinh. Đây cũng chính là lý do mà thời phong kiến xưa, ông bà ta rất coi trọng trinh tiết. Đó không chỉ thể hiện đức hạnh của người con gái mà còn là thể diện của gia đình, dòng họ nhà gái nên chữ trinh rất được coi trọng và giữ gìn.

Ngày nay, lễ hợp cẩn đã được cách tân, cô dâu chú rể cùng rót rượu và uống cùng nhau ngay tại tiệc cưới, trước sự chứng kiến của hai bên họ hàng. Điều này cũng có ý nghĩa riêng của nó: có thể nó ngầm đem đến thông điệp là mong muốn họ hàng hai bên chứng giám cho sự đồng lòng của đôi vợ chồng mới cưới và chúc phúc cho cô dâu chú rể.

2. Lễ lại mặt

Sau lễ hợp cẩn, ngay sáng hôm sau, đôi vợ chồng trẻ sẽ chuẩn bị lễ vật để tạ gia tiên và đi chào hỏi họ hàng thân thích bên nhà gái. Lễ này gọi là lễ lại mặt. Lễ vật bắt buộc phải có là ba quả cau, ba lá trầu  và một nậm rượu. Ngoài ra,  tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình mà lễ lại mặt thường có thêm bánh mứt, hạt sen, xôi gấc… Sau đó nhà gái đem chia lễ vật cho những người trong họ. Khi trở về nhà mình, cô dâu có thể nói với bố mẹ về tính tình và cách đối xử của chồng ra sao cho bố mẹ mình biết. Trong ngày này, nhà gái cũng sẽ làm một mâm cơm thịnh soạn mời dâu rể cùng ăn.

Bây giờ thì lễ lại mặt thường không quá nghi thức và trang trọng như ngày xưa nữa. Chẳng hạn thời điểm làm lễ lại mặt có thể  là vài ngày sau khi cô dâu về nhà chồng, chứ  không nhất thiết là ngay sáng hôm sau. Lễ lại mặt cũng có thể được cắt bỏ, hoặc gọi với cái tên đơn giản hơn là lại mặt, đơn thuần là vợ chồng mới cưới về thăm nhà vợ và bày tỏ lòng biết ơn với bố mẹ cô gái.

Lễ lại mặt cũng tùy theo từng vùng miền mà sẽ có những quy định khác nhau về lễ vật, thời điểm làm lễ, các kiêng kỵ cần tránh… Dù sao thì lòng thành của đôi vợ chồng trẻ và sự hiếu thảo đối với bố mẹ hai bên vẫn là quan trọng nhất 🙂

Hi vọng các bạn thấy hữu ích với những thông tin này!

Chúc các bạn tổ chức đám cưới thành công!

P.wedding

Website: http://p-wedding.com/

Địa chỉ: 15/5 Hoàng Minh Giám, P.9, Q. PN, TP.HCM

Điện thoại: (84-8) 66 735 143

Hotline: 0908521232

E-mailinfo@p-wedding.com

Facebookhttp://www.facebook.com/PweddingWeddingPlanner

Vài nét về nghi lễ cưới hỏi

Thế nào là lễ vấn danh? Tại sao lại có nơi làm lễ ăn hỏi, có gia đình thì không? Những nghi lễ cưới bắt buộc là gì?…Đây là những câu hỏi mà các CD-CR thường đau đầu vì không hiểu rõ nghi lễ cưới như thế nào cho hợp lý, đúng thuần phong mỹ tục. Đặc biệt, xã hội càng hiện đại thì nghi lễ cưới càng được giản tiện hoặc chuyển sang hình thức khác cho phù hợp với điều kiện từng gia đình. Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nghi lễ cưới, P.Wedding xin chia sẻ những kiến thức trong “Tục cưới hỏi ở Việt Nam” (tác giả Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo):

Khởi thủy trong đám cưới nhà nho thường có 6 lễ:

1. Nạp thái (kén chọn)

Là đưa lễ để tỏ ý đã kén chọn, tục gọi là chạm mặt hay dạm vợ. Nhà trai chuẩn bị sính lễ và nhờ người mai mối đến nhà gái để đặt vấn đề. Nếu nhà gái đồng ý thì nhận lễ vật, còn không thì xem như mọi chuyện như chưa xảy ra.

Lễ vật thường tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình.

2. Vấn danh (hỏi tên tuổi cô gái)

Sau khi gia đình nhà gái nhận lễ vật, người mai mối có trách nhiệm và thông báo tình hình cho nhà trai. Sau đó, nhà trai lại tiếp tục nhờ người tới nhà gái để tìm hiểu tên tuổi, ngày sinh tháng để của cô gái để về bốc quẻ, xem bói, nếu mọi việc tốt đẹp thì hôn nhân mới có thể tiếp tục.

Quan niệm của người xưa là vợ chồng hợp tuổi nhau thì mới có thể sống hạnh phúc, ăn nên làm ra (ngày nay chúng ta vẫn còn giữ quan niệm này). Lễ vấn danh cũng ra đời từ đó.

3. Nạp cát (báo cho nhà gái biết bói được quẻ tốt)

Theo truyền thống, nghi thức nạp cát gần giống như nghi thức nạp thái.

4. Thỉnh kỳ (bàn bạc định ngày để làm lễ cưới hỏi)

Sau khi đã chọn được ngày lành tháng tốt, nhà trai đến nhà gái thông báo để bàn bạc, thương lượng ngày tổ chức hôn lễ).

5. Nạp tệ (đưa lễ cưới hỏi)

Nhà trai chuẩn bị sính lễ đem đến nhà gái, biểu lộ mong muốn có cô gái về làm dâu nhà mình. Nếu nhà gái đón nhận sính lễ thì mọi việc xem như đã được xác nhận. Thông thường trong ngày này, người ta hay tổ chức cỗ bàn tiệc rượu, và cô dâu tương lai có thể gặp họ hàng nhà trai.

6. Thân nghinh (đón dâu)

Vào ngày hoàng đạo, chú rể trực tiếp tới nhà gái đón cô dâu.  Người xưa tin rằng dương luôn hạ âm, nam bao giờ cũng trước nữ, cho nên việc chú rể đích thân đi đón dâu là biểu thị tình cảm yêu thương.

Ngày đón dâu, cả nhà trai và nhà gái đến làm lễ cáo từ đường.

Ngày vu quy, cô dâu lên lễ từ đường nhà chồng và chào họ nhà trai.

Lễ hợp cẩn, CD-CR cùng chung chén rượu và ăn cùng một mâm.

Đám cưới phải có chủ hôn. Chủ hôn phải là ông hoặc cha của chú rể. Nếu không có người thân thích, hàng chủ bác sẽ làm chủ hôn. Chủ hôn phải không có tang cơ niên (tang một năm trở lên – tức trong vòng một năm trở lại thì không vướng tang ma gì)

Ngày nay, 6 lễ này đã giảm còn 3 lễ:

1. Lễ chạm ngõ

Khi xác định được ngày tốt, nhà trai sắm một lễ mọn cúng tổ tiên để báo về công việc hệ trọng đối với chàng trai. Sau đấy, nhà trai sửa một lễ mang sang nhà gái. Đó là một cơi trầu têm cánh phượng, cau bổ tư bẻ cánh tiên. Tùy theo vùng miền và điều kiện gia đình mà lễ này có thể có thêm trà, mứt, bánh…

Trước khi nhà trai từ giã, nhà gái thường sẻ một phần lễ để biếu lại nhà trai gọi là lại quả.

Có nhiều gia đình không có lễ chạm ngõ. Ngày nay, lễ chạm ngõ thường được xem như  cùng lễ ăn hỏi.

2. Lễ ăn hỏi

Về ý nghĩa, lễ ăn hỏi cũng như lễ chạm ngõ, nhưng được tổ chức lớn hơn, nhiều lễ vật hơn.

Nhà trai, cũng phải chọn ngày tốt, chuẩn bị cau trầu, rượu (là phần lễ không thể thiếu), một số nơi có bánh hỏi, xôi gấc, bánh cốm, bánh chưng, lợn quay…

Việc đưa thiếp mời hoặc mời miệng đến chung vui cũng được hai họ tiến hành vào ngày này (đó là vào ngày xưa). Ngày nay, lễ ăn hỏi có thể được nhập với lễ cưới và việc đưa thiếp mời do CD-CR, gia đình hai họ đã được tiến hành trước lễ cưới 1-2 tuần, để bạn bè thân hữu có thể sắp xếp thời gian mà tới dự.

3. Lễ cưới

Có nghi thức đưa sính lễ (nếu nhập lễ ăn hỏi vào làm một), lễ cáo từ đường, đón dâu và lễ hợp cẩn. Sau đó CD-CR cùng đi chúc rượu với người tham dự trong tiệc cưới. Các nghi lễ này có thể thêm hay bớt tùy đặc trưng phong tục từng miền và điều kiện của gia đình hai họ.

Thực chất, các CD-CR ngày nay để ý đến việc tránh điềm lành dữ trong đám cưới, chọn ngày tốt – xấu hơn là cố gắng làm theo đúng nghi thức truyền thống, vì qua bao thế hệ, nghi lễ cưới đã thay đổi nhiều và một số nghi lễ rườm rà trở nên không cần thiết nữa.

Bài và ảnh: P.wedding

Hotline: 0908521232